CẢI CÁCH, HIỆN ĐẠI HÓA HẢI QUAN

(VNACCS.com) – Với việc ký kết các hiệp định song phương và đa phương về thương mại quốc tế làm cho nhiệm vụ của ngành hải quan ngày càng phức tạp hơn, nhất là các vấn đề liên quan đến hàng rào kỹ thuật, chống bán phá giá, độc quyền. Bên cạnh đó, sự phát triển như vũ bão của khoa học, công nghệ; nhất là công nghệ thông tin và truyền thông đã làm thay đổi phương phức hoạt động của cả doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước.
 Trước sự phát triển đó, và từ khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, đòi hỏi ngành hải quan phải đẩy mạnh hơn nữa ứng dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ vào hoạt động quản lý nhà nước của mình để vừa tạo thuận lợi cho doanh nghiệp vừa bảo đảm hiệu quả và hiệu lực của quản lý nhà nước về hải quan. Ðồng thời, phải tiếp tục cải cách, hiện đại hóa, đổi mới hơn nữa, nâng cao năng lực cán bộ, công chức và cải thiện cơ sở pháp lý, cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin, v.v.
Ðứng trước đòi hỏi tất yếu khách quan cần phải cải cách, hiện đại hóa, Chính phủ và Bộ Tài chính rất quan tâm và chỉ đạo sát sao công tác cải cách, hiện đại hóa hải quan. Trong năm 2009, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Sinh Hùng đã có buổi làm việc trực tiếp với Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan về công tác cải cách hành chính, hiện đại hóa hải quan. Trong đó, Phó Thủ tướng đã có những chỉ đạo sát sao, cụ thể đối với công tác cải cách, hiện đại hóa hải quan.
Cùng với nỗ lực của Chính phủ và Bộ Tài chính, trong thời gian qua, cán bộ, công chức toàn ngành hải quan đều quyết tâm, khắc phục khó khăn, thể hiện tinh thần sáng tạo, dám nghĩ, dám làm và có trách nhiệm trong việc thực hiện cải cách, hiện đại hóa hải quan. Ngay sau khi kế hoạch cải cách, phát triển và hiện đại hóa hải quan được ban hành, ngành hải quan đã nhanh chóng tổ chức triển khai với quyết tâm cao. Các cấp ủy đảng đều quán triệt, coi thực hiện cải cách, hiện đại hóa là nhiệm vụ chính trị quan trọng của mình. Với định hướng đó, ngay từ năm 2005, Ðảng ủy Cơ quan Tổng cục Hải quan đã ban hành Nghị quyết số 02/NQ-Ð.U ngày 13-4-2005 về lãnh đạo thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ cải cách, phát triển và hiện đại hóa ngành hải quan giai đoạn 2005-2006 đến 2010, nhằm quán triệt tới tất cả cán bộ, công chức, đảng viên quyết tâm thực hiện cải cách, hiện đại hóa hải quan. Ngành hải quan đã ban hành một loạt văn bản chỉ đạo triển khai thực hiện cải cách, hiện đại hóa. Ðặc biệt trong năm 2008, Tổng cục Hải quan đã phê duyệt Kế hoạch cải cách, phát triển và hiện đại hóa hải quan giai đoạn 2008-2010 cho tất cả 33 cục hải quan tỉnh, thành phố trực thuộc T.Ư.
Nội dung cải cách, hiện đại hóa của ngành tập trung triển khai thực hiện hai kế hoạch cải cách, phát triển và hiện đại hóa hải quan giai đoạn 2004 – 2007 và 2008-2010. Ðến nay, đã thu được những kết quả đáng khích lệ, làm tiền đề cho việc tiếp tục đẩy mạnh cải cách, hiện đại hóa trong các giai đoạn tiếp theo. Cùng với đó, ngành hải quan đã triển khai thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử. Cho đến nay, đã thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử được gần 5 năm tại 12 cục hải quan tỉnh, thành phố với tổng số 44 chi cục và đã cho kết quả tốt đẹp: Hơn 1.200 doanh nghiệp thực hiện thủ tục hải quan điện tử. Những kết quả bước đầu cho thấy, mô hình thực hiện thủ tục hải quan điện tử đã phát huy hiệu quả; giúp giảm thời gian thông quan; thay đổi phương thức quản lý của cả cơ quan hải quan và doanh nghiệp; được doanh nghiệp và cộng đồng xã hội ủng hộ, đánh giá cao.
Ngành hải quan cũng đang thực hiện tốt vai trò cơ quan đầu mối về xây dựng và thực hiện cơ chế một cửa quốc gia và cơ chế một cửa ASEAN. Trong đó, Tổng cục Hải quan đã đề xuất Trưởng ban Chỉ đạo quốc gia về cơ chế một cửa ASEAN giai đoạn 2008-2012 kiện toàn bộ máy tổ chức và quy chế hoạt động; chủ động rà soát ở mức tổng quát các quy trình thủ tục của các bộ, ngành theo kết quả rà soát của Ðề án 30 của Chính phủ về đơn giản hóa thủ tục hành chính; chuẩn bị các điều kiện cho triển khai thực hiện cơ chế một cửa quốc gia.
Ðáng chú ý là, ngành đã tăng cường đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật, đưa vào vận hành máy soi công-ten-nơ tại cảng Cát Lái; tiếp tục triển khai các hạng mục mua sắm máy soi tại cảng Hải Phòng trong khuôn khổ Dự án do JICA tài trợ; đồng thời tiến hành thủ tục mua sắm trang bị hệ thống ca-mê-ra giám sát, trang bị hệ thống máy soi hành lý, các máy phát hiện phóng xạ và các trang thiết bị khác.
Thực hiện chủ trương của Chính phủ về đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, trong thời gian qua, Tổng cục Hải quan đã đẩy mạnh việc thực hiện Ðề án 30 theo đúng tiến độ và yêu cầu. Theo đó, các phương án đơn giản hóa được thực hiện sẽ tiết kiệm chi phí cho Nhà nước và doanh nghiệp hàng trăm tỷ đồng.
Công tác cải cách tổ chức bộ máy và phát triển nguồn nhân lực cũng được triển khai hiệu quả. Ðã từng bước xây dựng và hình thành cơ cấu tổ chức bộ máy phục vụ quản lý rủi ro, kiểm tra sau thông quan, kiểm soát ma túy, bộ máy hải quan mới tại các địa bàn trọng điểm; đồng thời nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Nhờ cải cách, hiện đại hóa, Tổng cục Hải quan đã xây dựng và phát triển ngành hải quan bước đầu theo hướng hiện đại, chuyên sâu, chuyên nghiệp. Cải cách, hiện đại hóa đã góp phần bảo đảm nguồn thu cho ngân sách Nhà nước. Trong những năm qua, Quốc hội, Chính phủ đã giao cho ngành hải quan chỉ tiêu thu ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa năm sau cao hơn năm trước, trong điều kiện có thay đổi về chính sách thuế, cơ cấu mặt hàng theo hướng giảm dần. Tuy nhiên, nhờ cải cách, hiện đại hóa, ngành hải quan đã luôn hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu về thu thuế xuất, nhập khẩu và thu khác.
Cũng nhờ cải cách, hiện đại hóa, ngành hải quan đã không ngừng tạo thuận lợi cho thương mại và vận tải quốc tế, góp phần thúc đẩy sản xuất trong nước, thu hút đầu tư, phát triển du lịch. Theo đó, đã cải tiến quy trình thủ tục theo hướng đơn giản, thuận lợi, tạo chuyển biến căn bản trong hoạt động quản lý nhà nước về hải quan, xóa bỏ những thủ tục, chế độ kiểm tra, kiểm soát hải quan thiếu đồng bộ, chồng chéo, rườm rà, phức tạp, gây cản trở trong việc tiếp nhận và xử lý công việc giữa cơ quan hải quan với nhau; giữa cơ quan hải quan với công dân, tổ chức có hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh. Cải cách, hiện đại hóa đã góp phần bảo vệ sản xuất trong nước, tăng cường sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam, bảo vệ an ninh và an toàn xã hội.
 Từ năm 2001 đến nay, các đơn vị toàn ngành hải quan đã phát hiện, bắt giữ khoảng 36.500 vụ, trị giá hàng hóa vi phạm ước tính khoảng 5.500 tỷ đồng. Kết quả trong công tác đấu tranh chống buôn lậu và gian lận thương mại của Hải quan Việt Nam góp phần vào việc tạo lập môi trường pháp lý lành mạnh, bình đẳng trong hoạt động kinh doanh xuất, nhập khẩu hàng hóa và phương tiện vận tải, hành khách xuất, nhập cảnh. Cải cách, hiện đại hóa góp phần hoạch định chính sách, điều hành kinh tế vĩ mô thông qua hoạt động thống kê  nhà nước về hải quan.
Phát huy những kết quả đã đạt được, trên cơ sở nhiệm vụ được giao, trong thời gian tới, mục tiêu hướng tới của ngành hải quan là tập trung hoàn thiện và thực thi hiệu quả chế độ quản lý nhà nước về hải quan, góp phần bảo đảm thực hiện chính sách của Nhà nước về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học và công nghệ; hợp tác và giao lưu quốc tế; bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc gia, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Ðồng thời xây dựng Hải quan Việt Nam thành một tổ chức hiện đại, chuyên sâu, chuyên nghiệp, được trang bị và làm chủ kỹ thuật hiện đại, hoạt động có hiệu lực và hiệu quả.
Trong giai đoạn trước mắt, ngành hải quan tiếp tục đẩy mạnh cải cách, hiện đại hóa hải quan và thực hiện thủ tục hải quan điện tử, tạo thuận lợi xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu, kiềm chế nhập siêu, giảm thời gian thông quan. Chuẩn bị mọi mặt cho việc thay đổi phương thức quản lý nhân sự theo yêu cầu hiện đại; triển khai Chiến lược đào tạo tập trung cho một số lĩnh vực nghiệp vụ quan trọng như phân loại hàng hóa, xác định trị giá hải quan, xuất xứ hàng hóa, kiểm tra sau thông quan, thông tin tình báo, quản lý rủi ro, kiểm soát chống buôn lậu và liêm chính hải quan. Tiếp tục thực hiện rà soát, đơn giản hóa thủ tục hải quan theo Ðề án 30 và Nghị quyết số 25/NQ-CP của Chính phủ, bảo đảm đơn giản hóa tối thiểu 30% các thủ tục hành chính. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát hải quan trong công tác đấu tranh chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới.

 

Chú ý: Khi đăng lại bài viết trên ở website hoặc các phương tiện truyền thông khác xin vui lòng ghi rõ nguồn http://www.vnaccs.com.  Câu hỏi hoặc góp ý xin gửi tới email:vnaccs@gmail.com

Xin chân thành cảm ơn và kính chúc quý khách luôn thành công trong cuộc sống!

(Theo Vnaccs.com)

Link
Ngày 05/8/2013, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) Nguyễn Thị Xuân Thu đã thông báo kết luận về việc triển khai thí điểm cơ chế hải quan một cửa quốc gia của Bộ. Theo đó, trong thời gian tới, Bộ này sẽ lựa chọn triển khai thí điểm từ 7-10 thủ tục hành chính đối với 7 lĩnh vực liên quan đến xuất nhập khẩu.
7-10 thủ tục hành chính được lựa chọn thí điểm trước mắt thuộc về 7 lĩnh vực liên quan đến xuất nhập khẩu thuộc 7 đơn vị là: Tổng cục Thủy sản, Tổng cục Lâm nghiệp, Cục Thú y, Cục Bảo vệ thực vật, Cục Trồng trọt, Cục Chăn nuôi và Cục Quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản.
Tháng 8/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 48/2011/QĐ-TTg về triển khai thí điểm NSW tại Việt Nam. Lộ trình thực hiện thí điểm gồm 3 giai đoạn: giai đoạn 1 (tháng 10/2011 đến tháng 12/2012) là thực hiện công tác chuẩn bị; giai đoạn 2 (tháng 1-2013 đến tháng 12-2013) triển khai tại các Bộ Tài chính, Công Thương, Giao thông vận tải; giai đoạn 3, (tháng 1 đến 12/2014) sẽ thực hiện tại 3 Bộ Y tế, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường. Kết thúc giai đoạn thí điểm (2014) sẽ thực hiện tổng kết đánh giá và triển khai mở rộng ra các Bộ, ngành khác.​
Để đảm bảo kế hoạch triển khai và thực hiện lộ trình thí điểm của Bộ đến tháng 7/2014 kết nối được với hệ thống hải quan một cửa quốc gia, đáp ứng yêu cầu và chất lượng, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT yêu cầu các đơn vị liên quan tập trung triển khai những công việc cụ thể.
Các đơn vị tham gia thí điểm NSW cần rà soát, lựa chọn và chuẩn hóa các quy trình thủ tục hành chính đăng ký tham gia thí điểm và chuẩn bị các điều kiện cần thiết để sẵn sàng thực hiện thí điểm. Đồng thời, các đơn vị này phối hợp thực hiện khảo sát thực tế hạ tầng công nghệ thông tin của đơn vị để chuẩn bị cho việc xây dựng dự án thí điểm.
Cục Chế biến, Thương mại nông lâm thủy sản và Nghề muối, các Cục quản lý chuyên ngành thuộc Bộ tăng cường phối hợp với Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) đẩy nhanh tiến độ, hoàn thiện danh mục các loại hàng hoá nhập khẩu thuộc diện quản lý chuyên ngành theo mã số HS quy định tại Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006 của Chính phủ.
Đối với văn phòng thường trực cải cách hành chính (Vụ Tổ chức cán bộ), Thứ trưởng Nguyễn Thị Xuân Thu yêu cầu tổng hợp, trình Bộ phê duyệt danh mục thủ tục hành chính triển khai thí điểm NSW cũng như kế hoạch và lộ trình triển khai. Đồng thời khảo sát tại các đơn vị tham gia thí điểm; tổ chức đào tạo, tập huấn cho cán bộ trong ngành cũng như các doanh nghiệp, cá nhân liên quan và tuyên truyền, phổ biến công tác triển khai NSW của Bộ NN&PTNT.

​Ngày 07/8/2013, Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh, Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia về “Cơ chế hải quan một cửa quốc gia” và “Cơ chế một cửa ASEAN” đã chủ trì cuộc họp Ban Chỉ đạo nhằm kiểm điểm việc thực hiện các kết luận tại phiên họp diễn ra vào đầu năm 2013 và đưa ra chương trình làm việc của cả năm 2013.
Trước đó, Ban Chỉ đạo quốc gia đã giao các Bộ Công Thương, Giao thông vận tải và Tài chính tiến hành công tác chuẩn bị để thực hiện thí điểm một số quy trình, thủ tục của 3 Bộ này vào tháng 8/2013. Kết quả mà 3 Bộ đạt được là đã ban hành Thông tư liên tịch, hướng dẫn thực hiện Quyết định số 48/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Các thủ tục được thí điểm bao gồm: Thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh đối với tàu biển tại cảng biển quốc tế; thủ tục hải quan điện tử theo Nghị định 87/2013/NĐ-CP; thủ tục cấp giấy chứng nhận xuất xứ đối với hàng hoá xuất khẩu theo Hiệp định ưu đãi thuế quan đối với hàng hoá xuất, nhập khẩu trong ASEAN.

Các Bộ cũng đang tiến hành công tác chuẩn bị về mặt kỹ thuật để kết nối Cổng Thông tin điện tử một cửa quốc gia với 3 hệ thống của 3 Bộ nói trên.

(Theo vnaccs.com)

Link

Từ thủ tục hải quan điện tử đến VNACCS

(vnaccs.com) – Trong công cuộc cải cách, hiện đại hóa Hải quan, việc thực hiện thủ tục hải quan điện tử (TTHQĐT) là hoạt động nổi bật được nhiều cơ quan, ban ngành và cộng đồng DN đánh giá cao. Thông qua thực hiện TTHQĐT, ngành Hải quan đã tiến một bước dài trong đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm thời gian thông quan hàng hóa để tạo thuận lợi cho DN theo mục tiêu, yêu cầu của Chính phủ, Bộ Tài chính.

Khái quát chung về Hệ thống VNACCS/VCIS

(vnaccs.com) – Hệ thống VNACCS/VCIS là Hệ thống thông quan điện tử và Cơ chế một cửa quốc gia gồm 02 hệ thống nhỏ:
 (i) Hệ thống thông quan điện tử (gọi tắt là Hệ thống VNACCS);
 (ii) Hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin nghiệp vụ (gọi tắt là Hệ thống VCIS). Hệ thống VNACCS/VCIS gồm các phần mềm chủ yếu: Khai báo điện tử (e-Declaration); Manifest điện tử (e-Manifest); Hóađơn điện tử (e-Invoice); Thanh toán điện tử (e-Payment); C/O điện tử (e-C/O); Phân luồng (selectivity); Quản lý hồ sơ rủi ro/tiêu chí rủi ro; Quản lý doanh nghiệp XNK; Thông quan và giải phóng hàng; Giám sát và kiểm soát.
Hệ thống VNACCS là hệ thống thông quan hàng hóa tự động của Việt Nam (Tên tiếng Anh là Viet Nam Automated Cargo Clearance System). Hệ thống VNACCS sử dụng cho mục đích thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu.
So với hệ thống hiện hành, Hệ thống VNACCS có điểm mới là tập trung cả 03 khâu: Khâu trước, trong và sau thông quan. Hệ thống hiện tại chỉ tập trung khâu trong và sau thông quan. Toàn bộ khâu trước thông quan hiện nay mới chỉ được thực hiện thí điểm trong khuôn khổ Dự án E-manifest, theo đó, hãng tàu phải gửi trước toàn bộ thông tin manifest về hàng hóa trên tàu cho cơ quan Hải quan.
So với hệ thống hiện hành, Hệ thống VNACCS mở rộng thêm các chức năng, thủ tục mới, đó là thủ tục đăng ký danh mục miễn thuế, thủ tục áp dụng chung cả hàng mậu dịch và phi mậu dịch, thủ tục đơn giản đối với hàng trị giá thấp, quản lý hàng hóa tạm nhập – tái xuất.
Chức năng khác của Hệ thống VNACCS là tăng cường kết nối với các Bộ, Ngành bằng cách áp dụng Cơ chế một cửa (Single Window). Theo thiết kế, Hệ thống VNACCS có sự kết nối với các Bộ, Ngành. Cơ quan Hải quan sẽ gửi thông tin liên quan đến việc xin cấp phép của các cơ quan chuyên ngành. Kết quả xử lý cấp phép sẽ được thực hiện thông qua Hệ thống.
Tiếp nhận và xử lý phân luồng tự động thông tin khai báo của doanh nghiệp. Hạn chế sử dụng hồ sơ giấy thông qua việc áp dụng chữ ký điện tử. Thời gian xử lý đối với hàng luồng xanh là 1 – 3 giây. Thời gian xử lý đối với luồng vàng và luồng đỏ phụ thuộc vào thời gian kiểm tra hồ sơ và kiểm tra thực tế hàng hóa.
Hệ thống VNACCS kết nối với nhiều hệ thống công nghệ thông tin của các bên liên quan như: doanh nghiệp kinh doanh kho bãi, cảng, dịch vụ, giao nhận, vận chuyển, ngân hàng, các Bộ, Ngành liên quan.
Về khai báo và xử lý thông tin khai báo trước thông quan: trước thông quan, hệ thống VNACCS hỗ trợ tập trung xử lý thông tin trước khi hàng đến/khai báo để phục vụ cho công tác kiểm tra, giám sát hải quan tại các khâu khai báo.
Một trong những nội dung thay đổi tương đối lớn của Hệ thống VNACCS liên quan đến hàng gia công, sản xuất xuất khẩu và chế xuất. Khi áp dụng Hệ thống VNACCS sẽ thực hiện theo hướng thanh khoản theo từng tờ khai, thực hiện quản lý theo từng phương tiện vận tải. Doanh nghiệp sẽ thực hiện tự khai, tự chịu trách nhiệm và tự thanh khoản. Cơ quan Hải quan chỉ kiểm tra trên cơ sở thông tin quản lý rủi ro đối với việc thanh khoản.
Về xác định trị giá. Hiện tại, Việt Nam áp dụng 06 mẫu Tờ khai trị giá tương ứng với 06 phương pháp xác định trị giá. Khi áp dụng Hệ thống VNACCS cho phép gộp một số chỉ tiêu của tờ khai trị giá theo phương pháp trị giá giao dịch vào tờ khai nhập khẩu. Do đó, về cơ bản, đối với phương pháp trị giá giao dịch không cần phải khai riêng tờ khai trị giá như hiện nay. Để đảm bảo việc thông quan hàng hóa nhanh chóng, những lô hàng có sự nghi vấn về giá sẽ chuyển sang khâu sau thông quan để xác định. Bộ phận nào xử lý việc này sẽ được cân nhắc cụ thể trước khi đưa hệ thống này đi vào vận hành.
Về giám sát, quản lý hải quan đối với một số loại hình: khi áp dụng Hệ thống VNACCS, hệ thống sẽ được thực hiện theo hướng đơn giản hóa, gom các quy trình thủ tục theo hướng chuyển cửa khẩu, chuyển cảng, quá cảnh,…về loại hình là hàng hóa vận chuyển chịu sự giám sát của hải quan vì bản chất là việc chuyển hàng hóa từ địa điểm này sang địa điểm khác, chịu sự giám sát của hải quan. Hiện tại chưa có loại hình đối với chuyển cảng. Vì vậy, căn cứ theo Công ước Kyoto sửa đổi và thực tiễn của Hải quan các nước, trong dự thảo Luật Hải quan sửa đổi, bổ sung có đưa nội dung này theo hướng doanh nghiệp vận tải chịu trách nhiệm cập nhật thông tin và phản hồi thông tin trên hệ thống về hàng hóa vận chuyển đang chịu sự giám sát của Hải quan tại điểm đi và điểm đến để phục vụ cho việc theo dõi, giám sát của hải quan.
Về chế độ quản lý của hải quan: Theo quy định hiện tại, hiện có khoảng trên 200 mã loại hình xuất khẩu, nhập khẩu. Để đảm bảo và tạo thuận lợi cho việc quản lý hải quan, thống kê và trên cơ sở khuyến nghị của Công ước Kyoto sửa đổi, Hệ thống VNACCS thực hiện chuẩn hóa các chế độ quản lý hải quan với khoảng 40 mã loại hình xuất khẩu, nhập khẩu. Bên cạnh đó, khi thực hiện Hệ thống VNACCS/VCIS sẽ không phân biệt loại hình mậu dịch và phi mậu dịch, sự khác nhau chủ yếu là về mặt chứng từ. Ngoài ra, một số loại hình đặc thù như hàng hóa mang vào, mang ra của cư dân biên giới, hàng an ninh quốc phòng, hàng trị giá thấp sẽ được thực hiện thủ công.
Chú ý: Khi đăng lại bài viết trên ở website hoặc các phương tiện truyền thông khác xin vui lòng ghi rõ nguồn http://www.vnaccs.com.  Câu hỏi hoặc góp ý xin gửi tới email:vnaccs@gmail.com

Xin chân thành cảm ơn và kính chúc quý khách luôn thành công trong cuộc sống!

Link

Tình hình thực hiện Dự án VNACCS/VCIS đến tháng 7/2013

Với quyết tâm của Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Nhật Bản là đưa hệ thống VNACCS/VCIS vào vận hành chính thức từ tháng 4/2014 theo đúng kế hoạch đề ra, hai bên đã xác định năm 2013 là giai đoạn tăng tốc và nước rút trước khi về đích trong năm 2014. Do vậy, hầu hết các hạng mục quan trọng của dự án được triển khai trong giai đoạn này. 

Một số lưu ý đối với doanh nghiệp về VNACCS

(Vnaccs.com) – Hiện nay, Tổng cục Hải quan đang xúc tiến xây dựng hệ thống thông quan tự động dựa trên nền tảng công nghệ hệ thống NACCS của Nhật Bản, gọi tắt là hệ thống VNACCS. Theo kế hoạch, hệ thống dự kiến sẽ đưa vào hoạt động từ quý II/2014. Vì là hệ thống phục vụ thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu nên doanh nghiệp XNK cần có sự chuẩn bị để có thể thực hiện thủ tục thông quan trên hệ thống VNACCS. Dưới đây là một số lưu ý đối với doanh nghiệp.

Thủ tục khai báo thông quan trên hệ thống
VNACCS được thiết lập theo mô hình xử lý tập trung và sẽ tích hợp nhiều tính năng, tiện ích giúp cho việc khai báo và thông quan nhanh chóng, thuận tiện. Theo thiết kế, tốc độ thông quan sẽ rất nhanh, mất khoảng tối đa 15 giây đối với hàng hóa được phân luồng xanh – nhờ vào việc tự động hóa các khâu khai báo, tiếp nhận, tính thuế, kiểm tra, phân luồng hàng hóa. Việc tìm hiểu và nắm bắt các tính năng, tiện ích và thủ tục khai báo trên hệ thống sẽ giúp doanh nghiệp thuận tiện khi làm thủ tục thông quan hàng hóa XNK.
Theo kế hoạch, Tổng cục Hải quan sẽ tổ chức các khóa đào tạo, tập huấn cho doanh nghiệp sử dụng hệ thống trong năm 2013. Công việc này giao cho các Cục Hải quan tỉnh/ thành phố đảm nhiệm. Do vậy, doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn do các Cục Hải quan tỉnh/thành phố quản lý có thể đăng ký tham gia các khóa đào tạo, tập huấn theo lịch công bố.
Đăng ký người sử dụng
Để có thể sử dụng hệ thống VNACCS, doanh nghiệp XNK cần đăng ký với cơ quan hải quan để được cấp mã sử dụng. Hiện tại, Tổng cục Hải quan đang xây dựng quy trình đăng ký và hướng dẫn đăng ký người sử dụng, thiết lập công cụ đăng ký trực tuyến trên cổng thông tin điện tử hải quan. Sau khi hoàn tất các công việc trên, Tổng cục Hải quan sẽ tổ chức hướng dẫn và tiếp nhận đơn đăng ký từ người sử dụng. Công việc này dự kiến sẽ bắt đầu trong quý III/2013 khi bước vào giai đoạn thử kết nối hệ thống.
Chữ ký số
Tương tự như thủ tục hải quan điện tử hiện nay, doanh nghiệp được yêu cầu sử dụng chữ ký số để chứng thực tờ khai hải quan trên hệ thống VNACCS. Do vậy, doanh nghiệp cần chủ động đăng ký sử dụng chữ ký số theo quy định hiện hành để có thể đáp ứng yêu cầu thủ tục thông quan trên hệ thống VNACCS.
Kết nối với hệ thống
Việc khai báo thông quan hàng hóa XNK có thể thực hiện trực tuyến thông qua kết nối với hệ thống VNACCS. Doanh nghiệp XNK có thể lựa chọn hai phương thức kết nối tùy thuộc vào năng lực hạ tầng công nghệ thông tin của doanh nghiệp.
Đối với các công ty lớn có nền tảng công nghệ thông tin tiên tiến sẵn có, doanh nghiệp có thể tiếp cận các chuẩn giao tiếp do cơ quan hải quan cung cấp và hướng dẫn để chủ động điều chỉnh, kết nối vào VNACCS. Đối với các công ty khác, cơ quan hải quan sẽ cung cấp phần mềm đầu cuối để doanh nghiệp sử dụng. Hiện tại, Tổng cục Hải quan đang hoàn tất thiết kế phần mềm đầu cuối để có thể cung cấp cho doanh nghiệp vào thời điểm thích hợp.
Hỏi – đáp vướng mắc
Việc chuyển đổi sang hệ thống mới sẽ không thể tránh khỏi những vướng mắc trong khi làm thủ tục thông quan trên hệ thống. Để hỗ trợ người khai hải quan, Tổng cục Hải quan sẽ thiết lập bộ phận trợ giúp nhằm kịp thời giải đáp các vướng mắc phát sinh. Hiện tại, Tổng cục Hải quan đang nghiên cứu mô hình tổ chức của bộ phận hỗ trợ này để có thể đáp ứng nhu cầu phát sinh khi đưa hệ thống vào vận hành. Mục tiêu đặt ra là sẵn sàng có bộ phận trợ giúp khi hệ thống chính thức vận hành.
Việc chủ động tìm hiểu, nghiên cứu và tham gia hợp tác với cơ quan hải quan sẽ góp phần triển khai thành công hệ thống VNACCS đồng thời tạo thuận lợi cho chính các doanh nghiệp khi làm thủ tục thông quan hàng hóa XNK.

Thế nào là VNACCS/VCIS

Theo Vnaccs.com,  VNACCS là viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Vietnam Automated Cargo And Port Consolidated System”, là 1 hệ thống thông quan hàng hóa tự động mới của Hải quan Việt nam.
VCIS là viết tắt của cụm từ tiếng Anh ” Vietnam Customs Intelligence Information System”, là 1 hệ thống thông tin tình báo Hải quan phục vụ cho công tác quản lý rủi ro và giám sát nghiệp vụ của Hải quan Việt Nam.

VNACCS/VCIS hợp thành 1 hệ thống hải quan điện tử hoàn chỉnh và hiện đại. Dự án VNACCS/VCIS được tài trợ bởi chính phủ Nhật Bản, phát triển dựa trên hệ thống NACCS (Nippon Automated Cargo And Port Consolidated System) của Hải quan Nhật Bản, được coi là 1 trong những hệ thống CNTT Hải quan tốt nhất trên thế giới hiện nay.”  (Trích từ Wikipedia).Image
Chú ý: Khi đăng lại bài viết trên ở website hoặc các phương tiện truyền thông khác xin vui lòng ghi rõ nguồn http://www.vnaccs.com.  Câu hỏi hoặc góp ý xin gửi tới email:vnaccs@gmail.com

Xin chân thành cảm ơn và kính chúc quý khách luôn thành công trong cuộc sống!